
Tôi sống trong một con hẻm cụt, từ ngoài đường lớn đi vào chỉ khoảng 20 căn nhà. Vài năm trước, có một người phụ nữ trong xóm bày bán hủ tiếu ngay trên vỉa hè dọc con hẻm.
Quán chỉ có chiếc tủ đựng đồ ăn, vài bộ bàn ghế nhựa đơn giản, bán mỗi tô khoảng 20.000-25.000 đồng. Bà bán từ sáng đến trưa, hôm nào hết hàng sớm thì dọn về. Nhờ có bảng hiệu đặt trước nhà một người quen ngoài mặt tiền, khách vẫn biết đường tìm vào ăn. Giá bình dân, món ăn vừa túi tiền nên quán có lượng khách quen ổn định.
Con hẻm phần lớn là các gia đình có người đi làm giờ hành chính, buổi sáng thường ra ngoài từ sớm, buổi trưa lại đi làm nên việc buôn bán của bà cũng không ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt chung.
Người trong xóm quen với hình ảnh chiếc xe đẩy, vài chiếc ghế nhựa và những tô hủ tiếu nóng hổi mỗi sáng. Một bữa ăn 20.000-25.000 đồng khi ấy không phải khoản chi đáng kể, người bán cũng có thể thoải mái thêm chút rau, miếng thịt cho khách.
Thế rồi, việc buôn bán trên vỉa hè ngày càng khó, cộng thêm mâu thuẫn với chủ nhà mới ở vị trí bà thường đặt quán, người phụ nữ không thể tiếp tục bán ở đó. Bà đành tìm một mặt bằng để thuê, chuyển từ con hẻm nhỏ ra địa điểm kinh doanh ổn định hơn.
Nhưng từ khi phải gánh thêm tiền thuê nhà, giá mỗi tô hủ tiếu cũng tăng lên khoảng 40.000-50.000 đồng, không khác nhiều so với những quán ăn bình dân khác.
Hôm rồi, tôi có ghé lại ăn hủ tiếu và nhận ra không chỉ giá bán thay đổi mà cách phục vụ cũng khác trước. Thịt, rau và các món ăn kèm không còn được cho thêm thoải mái như ngày bà bán trên vỉa hè. Khi tôi hỏi chuyện, bà cười giải thích rằng giờ phải thuê mặt bằng, tiền nào cũng phải tính. Đến miếng chanh khách dùng thêm bà cũng phải cân nhắc, chứ không thể xởi lởi như trước được nữa.
Nghe vậy, tôi vừa thương vừa thấy một nghịch lý của việc kinh doanh hàng quán. Cùng một người bán, cùng món hủ tiếu ấy, nhưng chỉ vì chuyển từ vỉa hè sang mặt bằng thuê mà giá ăn sáng gần như tăng gấp đôi. Người bán không hẳn muốn tăng giá hay bớt phần ăn của khách, nhưng khi chi phí cố định mỗi tháng tăng lên, họ buộc phải tính toán lại từng khoản để duy trì việc buôn bán.
Câu chuyện này khiến tôi nghĩ đến làn sóng trả mặt bằng đã diễn ra nhiều năm qua. Không ít cửa hàng, quán ăn từng chấp nhận mức thuê cao để có vị trí đẹp, đông người qua lại, nhưng khi doanh thu không đủ bù chi phí, họ buộc phải đóng cửa hoặc chuyển đi.
Có ý kiến cho rằng nhà phố đang dần trở về đúng với giá trị và bản chất của nó: trước hết là một căn nhà để ở, chứ không nhất thiết phải trở thành mặt bằng kinh doanh với mức giá cho thuê ngày càng cao. Một căn nhà nằm trên đường lớn không đồng nghĩa chủ nhà có thể mặc định thu được khoản tiền thuê lớn nếu hoạt động kinh doanh tại đó không tạo ra đủ lợi nhuận.
Tôi cho rằng, mặt bằng là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh, nhưng giá thuê phải tương xứng với khả năng khai thác và sức mua của khu vực. Nếu tiền thuê quá cao, người kinh doanh sẽ phải cộng chi phí ấy vào giá bán.
Cuối cùng, người chịu tác động không chỉ là chủ quán mà còn là khách hàng, những người vốn chỉ muốn có một bữa ăn bình dân với mức giá hợp lý. Một tô hủ tiếu từ 25.000 đồng lên 45.000-50.000 đồng có thể không quá lớn với người có thu nhập tốt, nhưng với người lao động phải ăn ngoài mỗi ngày, đó là khoản chênh lệch đáng kể.
Tất nhiên, không thể phủ nhận người thuê mặt bằng cần tính đủ chi phí để duy trì hoạt động, còn chủ nhà cũng có quyền định giá tài sản của mình. Nhưng nếu giá thuê vượt quá sức chịu đựng của người kinh doanh, mặt bằng đẹp có thể bỏ trống trong thời gian dài, còn những hàng quán bình dân mất đi lợi thế về giá. Người bán phải thu hẹp phần ăn, khách phải trả nhiều tiền hơn, trong khi cả hai bên đều không chắc có được lợi ích tốt nhất.
Sức sống của hàng quán bình dân không chỉ là tay nghề hay món ăn ngon, mà còn là khả năng duy trì chi phí thấp. Khi một người bán phải chuyển từ vỉa hè sang mặt bằng thuê, giá cả và cách phục vụ chắc chắn sẽ thay đổi.
Liệu có phải giá thuê nhà phố đang quá cao so với sức mua thực tế, khiến những hàng quán bình dân ngày càng khó tồn tại?
Thăng Nguyễn
Commento
Nessun commento ancora