
Chuyên gia: 'Trẻ cần có quyền từ chối hiến mô, tạng mà không cần giải thích'
Đứa trẻ dù có gạch vào ô đồng ý thì cũng chưa chắc phản ảnh sự tự nguyện của nó.
Liên quan đến đề xuất mở rộng đối tượng hiến mô, tạng là người dưới 18 tuổi đang được Bộ Y tế đưa ra, một trong những vấn đề gây lo ngại nhất là quy định, cách thức để đảm bảo sự tự nguyện thực chất của trẻ khi tham gia.
Một gia đình có hai đứa con, một đứa mắc bệnh hiểm nghèo, cha mẹ có thể hỏi con có thể cứu sống anh con không, Nó có thể nghĩ rằng nếu từ chối thì anh mình sẽ chết và mình sẽ phải mang mặc cảm tội lỗi đó suốt đời.
Để tham khảo về kinh nghiệm các nước trong việc đảm bảo sự minh bạch trong quá trình lấy ý kiến trẻ, hôm nay chúng tôi đã trao đổi với GS Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y tế thuộc Đại học Công nghệ Sydney.
Ông cũng là thành viên của Hội đồng Nghiên cứu Y học và Sức khỏe Quốc gia Australia (NHMRC) - cơ quan có trách nhiệm xây dựng khung chính sách và đạo đức quốc gia như ban hành hướng dẫn về sự đồng ý và chấp thuận của trẻ trong việc hiến mô, tạng ở trẻ em.
Quý vị đang nghe VnExpress.
Chào giáo sư! Việt Nam đang thảo luận chính sách cho phép người dưới 18 tuổi hiến mô tạng. Được biết, Australia đã có quy định về việc này. Từ kinh nghiệm và quan sát quá trình làm việc mình tại, ông thấy đâu là những tranh luận Australia từng gặp liên quan việc đảm bảo tính tự nguyện của trẻ?
Tôi ủng hộ mục tiêu của đề xuất này bởi vì ghép tạng một trái thận hay là một lá gan, một trái tim có thể cứu sống một người bệnh. Nếu không thì cũng giúp họ có thêm nhiều năm sống khỏe mạnh.
Nhưng mà chúng ta phải nhớ rằng, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, chưa có đầy đủ khả năng nhận thức, chưa có kinh nghiệm sống, quan trọng chưa có sự độc lập đưa ra quyết định phức tạp. Và đây là những quyết định đặc biệt liên quan đến cơ thể và sức khỏe của chính mình.
Quan điểm của tôi, nên mở rộng cơ hội để cứu người nhưng phải đặt quyền lợi của người hiến tạng và đặc biệt là của trẻ em trên cái nhu cầu ghép tạng.
Ở Úc có Hội đồng quốc gia về y khoa và sức khỏe Úc.
Cái nguy cơ về tâm lý và sự tự nguyện, tôi nghĩ đây có lẽ là vấn đề mà khó nhất. Mình thử hình dung, một gia đình có hai đứa con. Một đứa mắc bệnh hiểm nghèo và cần phải ghép tế bào gốc. Cha mẹ có thể hỏi con có thể cứu sống anh con không. Thì đối với người lớn, đó là một lời đề nghị nhưng mà đối với một đứa trẻ mới có 7-8 tuổi hay là thậm chí 10-12 tuổi, tức là ở cái tuổi thiếu niên, thì câu hỏi đó trở thành một cái áp lực.
Nó có thể nghĩ rằng nếu từ chối thì anh mình sẽ chết và mình sẽ phải mang cái mặc cảm tội lỗi đó suốt đời. Khảo sát hiện nay kêu đứa trẻ có đồng ý - không đồng ý thì cho dù đứa trẻ có gạch vào ô đồng ý thì cũng chưa chắc đó là phản ảnh sự tự nguyện của nó.
Như ông nói, tính tự nguyện là vấn đề khó nhất bởi nguy cơ về tâm lý khi trẻ đối diện với vấn đề liên quan đến sinh mạng. Vậy Australia đã đặt ra quy định như thế nào để đảm bảo trẻ thực sự hiểu, đồng thuận thực chất của trẻ?
Cái quan trọng nhất tôi thấy bên Úc là sự tham gia của những người không thuộc nhóm trực tiếp ghép tạng. Đây là những chuyên gia được đào tạo để trao đổi với gia đình. Thường là những người làm tâm lý học và họ phải tư vấn, cung cấp những thông tin đầy đủ, tôn trọng hoàn cảnh của gia đình của người hiến tạng mà không có gây áp lực.
Phải có ít nhất một cuộc trao đổi không có cha mẹ hoặc là người nhận hiện diện. Bởi vì nếu có cha mẹ, có người nhận hiện diện là coi như gây áp lực tâm lý.
Tôi có một ví dụ xảy ra thực tế ở bên Úc, khi chị bệnh nhân này đồng ý tham gia vào công trình nghiên cứu. Nhưng đến phút giây phút cuối cùng chị không đồng ý thì anh bác sĩ mới gọi điện nói rằng tôi thất vọng về cái quyết định của chị, không biết là mai mốt tôi có thể khám cho chị được hay không. Thì cái câu đó nó được coi là một sự đe dọa và được coi là vi phạm y đức.
Lớp đầu tiên để bảo vệ trẻ là chuyên gia tư vấn độc lập. Nhưng nếu mâu thuẫn, xung đột vượt quá thẩm quyền của người tư vấn độc lập thì tại Australia có những cơ chế xử lý như thế nào, thưa ông?
Ở Úc, mỗi tiểu bang có một Hội đồng đánh giá gồm các bác sĩ nhi khoa, chuyên gia tâm lý trẻ em. Hội đồng giải quyết hoặc dung hòa những bất đồng ý kiến giữa các nhóm lợi ích khác nhau và kể cả thân nhân nữa. Khi hội đồng này không đạt được sự đồng thuận của thân nhân thì lúc đó mới lên tòa án.
Hội đồng này là họ phải đánh giá được ba câu hỏi. Thứ nhất là việc hiến mô có thật sự cần thiết và có phương án thay thế nào phù hợp hơn hay không.
Thứ hai nữa là nguy cơ y khoa và tâm lý đối với trẻ em có chấp nhận được hay không. Có nhiều khi nó mang vết thương tâm lý suốt đời thì làm sao.
Câu hỏi thứ ba là đứa trẻ có thực sự tự nguyện hay là đang chịu áp lực từ gia đình, áp lực tình cảm, áp lực tâm lý gì.
Còn đối với những trường hợp có xung đột lợi ích nghiêm trọng hoặc trẻ em không có khả năng bày tỏ ý kiến thì tôi nghĩ rằng cần phải có sự phê chuẩn của một cơ quan có thẩm quyền độc lập, thậm chí như ở Úc phải lên đến tòa án chứ không phải đơn giản.
Có một trường hợp chắc là cũng gần 20 năm trước đây rồi, một đứa trẻ tên là Aynaya, lúc đó 13 tháng tuổi thôi bị một cái hội chứng không thể nào sống lâu được. Gia đình đề nghị hiến tủy xương cho người em họ lúc đó là mới có 7 tháng tuổi, người em họ nha chứ không phải em ruột. Thành ra cái vụ việc đó đặt ra câu hỏi về quyền đồng ý của cha mẹ. Vì cha mẹ đề nghị nhưng mà em bé đó có biết gì đâu. Vì thế, nó xảy ra sự tranh chấp giữa gia đình và bên hệ thống y tế. Bên hệ thống y tế nói em này chưa có qua đời, chưa có chết thành ra là người ta không có đồng ý hiến tạng. Đến khi hai bên không đồng ý thì mới kéo nhau ra tòa.
Nhìn lại đề xuất mới nhất của Việt Nam, với trường hợp người sống dưới 18 tuổi muốn hiến mô tái sinh, theo quy định đã bắt buộc có văn bản đồng ý của cả cha mẹ đẻ, cũng đã có quy định trẻ phải được tư vấn độc lập. Nhìn ở góc độ minh bạch, đảm bảo tính tự nguyện của trẻ, ông đánh giá thế nào?
Cái chữ gọi là tư vấn độc lập mình phải làm rõ. Tư vấn độc lập có nghĩa là gì? Ví dụ như độc lập là độc lập về cái gì? Họ có được quyền gặp riêng mỗi trẻ em hay không? Tôi nghĩ rằng phải ra những quy định cụ thể thì mới thuyết phục hơn.
Tôi nghĩ có ba biện pháp. Cái thứ nhất là trẻ em phải được thông báo rõ ràng là mình có quyền từ chối mà không giải thích lý do.
Cái thứ hai, có quyền đề nghị hội đồng ngưng quy trình nếu đứa trẻ phản đối hoặc là có dấu hiệu bị ép buộc. Tức là không có ai có quyền tuyệt đối cả. Tất cả đều là hội đồng và tập thể quyết định.
Cái thứ ba là nếu xuất hiện sự bất đồng giữa đứa trẻ và ba má thì vụ việc phải được chuyển đến hội đồng độc lập hoặc là một cơ quan thẩm quyền.
Còn đối với những trường hợp mà có xung đột lợi ích nghiêm trọng hoặc là trẻ em mà không có khả năng bày tỏ ý kiến thì tôi nghĩ cần phải có sự phê chuẩn của một cơ quan có thẩm quyền độc lập. Thậm chí là như trường hợp của Úc phải lên đến tòa án.
Với trường hợp cho phép người dưới 18 tuổi hiến bộ phận cơ thể sau khi qua đời, điều kiện là người này đã được Hội đồng chuyên môn độc lập xác định chết não hoặc chết tuần hoàn, đã đăng ký hoặc có nguyện vọng hiến trước khi chết và được cha mẹ/người giám hộ đồng ý bằng văn rbản. Trong trường hợp này, ông đánh giá thế nào?
Lập hội đồng chuyên môn thì tôi nghĩ đó là một điều rất là cần thiết, đây cũng là biện pháp cũng đáng ghi nhận.
Nhưng mà chất lượng của quy trình phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán chứ không phải là đánh giá bao nhiêu lần. Nếu mà chặt chẽ thì phải trả lời được ba câu hỏi: Ai chịu trách nhiệm thực hiện, theo cái tiêu chuẩn nào và ai có quyền kiểm tra hoặc là can thiệp khi mà có sai phạm.
Cái việc mà xác định chết brain hay là chính xác hơn là tử vong theo cái tiêu chuẩn thần kinh đòi hỏi quy trình chuyên môn nghiêm ngặt. Ở trẻ em đặc biệt là trẻ em sơ sinh có những đặc điểm khác với người lớn nên là các bác sĩ phải loại trừ những yếu tố có thể làm sai lệ kết quả, chẳng hạn: thuốc an thần, hạ thân nhiệt hoặc là các rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng… thì các bác sĩ phải làm hết những cái đó.
Tôi nghĩ rằng Việt Nam hay là Bộ Y tế nên có những hướng dẫn chuyên môn riêng cho trẻ em chứ không đơn giản là áp dụng toàn bộ cái quy trình của người lớn cho trẻ em.
Khi mà một đứa trẻ hay là bất cứ ai mà đồng thuận thì là phải đồng thuận trong điều kiện Thứ nhất là tôi hiểu tôi đồng thuận về cái vấn đề bì và cái thứ hai là tôi đồng thuận trong lúc tôi còn tỉnh táo. Ví dụ tôi đang nằm trên cái giường bệnh rồi bác sĩ đưa đưa cho tôi tờ giấy nói rằng anh có đồng thuận không. Tôi đau gần chết thành nên là tôi phải ký vô đó cho nó xong thì cái đó không phải là đồng thuận, phải là đồng thuận trong lúc tỉnh táo. Và nếu mà sự đồng thuận trong những tình huống như thế thì không được xem là đồng thuận thật sự.
Từ kinh nghiệm của Australia, ông còn những đề xuất nào cho Việt Nam khi triển khai dự luật hiến mô, tạng?
Chúng ta cần phải có những dữ liệu về an toàn lâu dài ở những trẻ em hiến mô.
Có lần tôi tham gia vào một nghiên cứu ngắn với một đồng nghiệp ở Hiệp hội chuyên về thận, thì tôi rất là ngạc nhiên là họ thu thập tất cả những ca được ghép thận và hiến thận, đầy đủ đến nỗi mình khó tưởng tượng được.
Ví dụ như bệnh nhân vô bệnh viện ngày nào, xuất viện ngày nào, dùng thuốc gì và trong quá trình đó có những biến chứng gì rồi triệu chứng ra làm sao. Tất cả những cái đó có đầy đủ hết trơn. Nó giống như là lịch sử cá nhân cho mỗi một người hiến và nhận được cái tạng.
Cái dữ liệu luôn vô cùng có ích để cho mình đánh giá được sự thích hợp và lợi ích của việc ghép tạng đối với người được điều trị và được nhận. Dữ liệu nó vô cùng quan trọng cho việc hoạch định chính sách.
Mình cần phải có một cơ sở dữ liệu cấp quốc gia và học theo kinh nghiệm của các nước đi trước như Mỹ, Úc để biết rằng, cơ sở dữ liệu đó mình thu thập những gì và cách vận hành cũng như là bảo mật nó ra làm sao, thì tôi nghĩ rằng nó sẽ thuyết phục hơn cho xã hội và công chúng.
Còn đối với những trẻ em mà hiến mô khi còn sống mình cần phải theo dõi sức khỏe về thể chất và sức khỏe, tâm lý về lâu dài, kể cả về ghép tạng cho những người mà không thành công. Mình xây dựng hệ thống giám sát theo dõi lâu dài để bảo đảm sự an toàn cho những trẻ em hiến mô.
Tôi nghĩ không có hệ thống nào hoàn hảo đâu. Nhưng kinh nghiệm của Úc cho thấy rằng niềm tin của công chúng phải đến từ quy trình, tiêu chuẩn phải minh bạch và có sự kiểm tra và có trách nhiệm giải trình, đồng thời có sự tham gia của gia đình.
Xin cảm ơn ông.
Xin thông tin thêm đến quý vị:
Sau lo ngại nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý và khả năng trẻ bị người thân gây áp lực, Bộ Y tế đã có một số điều chỉnh lại đề xuất liên quan hiến mô, tạng ở trẻ, cụ thể:
Quốc hội dự kiến biểu quyết thông qua dự án luật ngày 21/11. Luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2028.
Chuyên gia: 'Trẻ cần có quyền từ chối hiến mô, tạng mà không cần giải thích'
Đứa trẻ dù có gạch vào ô đồng ý thì cũng chưa chắc phản ảnh sự tự nguyện của nó.
Liên quan đến đề xuất mở rộng đối tượng hiến mô, tạng là người dưới 18 tuổi đang được Bộ Y tế đưa ra, một trong những vấn đề gây lo ngại nhất là quy định, cách thức để đảm bảo sự tự nguyện thực chất của trẻ khi tham gia.
Một gia đình có hai đứa con, một đứa mắc bệnh hiểm nghèo, cha mẹ có thể hỏi con có thể cứu sống anh con không, Nó có thể nghĩ rằng nếu từ chối thì anh mình sẽ chết và mình sẽ phải mang mặc cảm tội lỗi đó suốt đời.
Để tham khảo về kinh nghiệm các nước trong việc đảm bảo sự minh bạch trong quá trình lấy ý kiến trẻ, hôm nay chúng tôi đã trao đổi với GS Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y tế thuộc Đại học Công nghệ Sydney.
Ông cũng là thành viên của Hội đồng Nghiên cứu Y học và Sức khỏe Quốc gia Australia (NHMRC) - cơ quan có trách nhiệm xây dựng khung chính sách và đạo đức quốc gia như ban hành hướng dẫn về sự đồng ý và chấp thuận của trẻ trong việc hiến mô, tạng ở trẻ em.
Quý vị đang nghe VnExpress.
Chào giáo sư! Việt Nam đang thảo luận chính sách cho phép người dưới 18 tuổi hiến mô tạng. Được biết, Australia đã có quy định về việc này. Từ kinh nghiệm và quan sát quá trình làm việc mình tại, ông thấy đâu là những tranh luận Australia từng gặp liên quan việc đảm bảo tính tự nguyện của trẻ?
Tôi ủng hộ mục tiêu của đề xuất này bởi vì ghép tạng một trái thận hay là một lá gan, một trái tim có thể cứu sống một người bệnh. Nếu không thì cũng giúp họ có thêm nhiều năm sống khỏe mạnh.
Nhưng mà chúng ta phải nhớ rằng, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, chưa có đầy đủ khả năng nhận thức, chưa có kinh nghiệm sống, quan trọng chưa có sự độc lập đưa ra quyết định phức tạp. Và đây là những quyết định đặc biệt liên quan đến cơ thể và sức khỏe của chính mình.
Quan điểm của tôi, nên mở rộng cơ hội để cứu người nhưng phải đặt quyền lợi của người hiến tạng và đặc biệt là của trẻ em trên cái nhu cầu ghép tạng.
Ở Úc có Hội đồng quốc gia về y khoa và sức khỏe Úc.
Cái nguy cơ về tâm lý và sự tự nguyện, tôi nghĩ đây có lẽ là vấn đề mà khó nhất. Mình thử hình dung, một gia đình có hai đứa con. Một đứa mắc bệnh hiểm nghèo và cần phải ghép tế bào gốc. Cha mẹ có thể hỏi con có thể cứu sống anh con không. Thì đối với người lớn, đó là một lời đề nghị nhưng mà đối với một đứa trẻ mới có 7-8 tuổi hay là thậm chí 10-12 tuổi, tức là ở cái tuổi thiếu niên, thì câu hỏi đó trở thành một cái áp lực.
Nó có thể nghĩ rằng nếu từ chối thì anh mình sẽ chết và mình sẽ phải mang cái mặc cảm tội lỗi đó suốt đời. Khảo sát hiện nay kêu đứa trẻ có đồng ý - không đồng ý thì cho dù đứa trẻ có gạch vào ô đồng ý thì cũng chưa chắc đó là phản ảnh sự tự nguyện của nó.
Như ông nói, tính tự nguyện là vấn đề khó nhất bởi nguy cơ về tâm lý khi trẻ đối diện với vấn đề liên quan đến sinh mạng. Vậy Australia đã đặt ra quy định như thế nào để đảm bảo trẻ thực sự hiểu, đồng thuận thực chất của trẻ?
Cái quan trọng nhất tôi thấy bên Úc là sự tham gia của những người không thuộc nhóm trực tiếp ghép tạng. Đây là những chuyên gia được đào tạo để trao đổi với gia đình. Thường là những người làm tâm lý học và họ phải tư vấn, cung cấp những thông tin đầy đủ, tôn trọng hoàn cảnh của gia đình của người hiến tạng mà không có gây áp lực.
Phải có ít nhất một cuộc trao đổi không có cha mẹ hoặc là người nhận hiện diện. Bởi vì nếu có cha mẹ, có người nhận hiện diện là coi như gây áp lực tâm lý.
Tôi có một ví dụ xảy ra thực tế ở bên Úc, khi chị bệnh nhân này đồng ý tham gia vào công trình nghiên cứu. Nhưng đến phút giây phút cuối cùng chị không đồng ý thì anh bác sĩ mới gọi điện nói rằng tôi thất vọng về cái quyết định của chị, không biết là mai mốt tôi có thể khám cho chị được hay không. Thì cái câu đó nó được coi là một sự đe dọa và được coi là vi phạm y đức.
Lớp đầu tiên để bảo vệ trẻ là chuyên gia tư vấn độc lập. Nhưng nếu mâu thuẫn, xung đột vượt quá thẩm quyền của người tư vấn độc lập thì tại Australia có những cơ chế xử lý như thế nào, thưa ông?
Ở Úc, mỗi tiểu bang có một Hội đồng đánh giá gồm các bác sĩ nhi khoa, chuyên gia tâm lý trẻ em. Hội đồng giải quyết hoặc dung hòa những bất đồng ý kiến giữa các nhóm lợi ích khác nhau và kể cả thân nhân nữa. Khi hội đồng này không đạt được sự đồng thuận của thân nhân thì lúc đó mới lên tòa án.
Hội đồng này là họ phải đánh giá được ba câu hỏi. Thứ nhất là việc hiến mô có thật sự cần thiết và có phương án thay thế nào phù hợp hơn hay không.
Thứ hai nữa là nguy cơ y khoa và tâm lý đối với trẻ em có chấp nhận được hay không. Có nhiều khi nó mang vết thương tâm lý suốt đời thì làm sao.
Câu hỏi thứ ba là đứa trẻ có thực sự tự nguyện hay là đang chịu áp lực từ gia đình, áp lực tình cảm, áp lực tâm lý gì.
Còn đối với những trường hợp có xung đột lợi ích nghiêm trọng hoặc trẻ em không có khả năng bày tỏ ý kiến thì tôi nghĩ rằng cần phải có sự phê chuẩn của một cơ quan có thẩm quyền độc lập, thậm chí như ở Úc phải lên đến tòa án chứ không phải đơn giản.
Có một trường hợp chắc là cũng gần 20 năm trước đây rồi, một đứa trẻ tên là Aynaya, lúc đó 13 tháng tuổi thôi bị một cái hội chứng không thể nào sống lâu được. Gia đình đề nghị hiến tủy xương cho người em họ lúc đó là mới có 7 tháng tuổi, người em họ nha chứ không phải em ruột. Thành ra cái vụ việc đó đặt ra câu hỏi về quyền đồng ý của cha mẹ. Vì cha mẹ đề nghị nhưng mà em bé đó có biết gì đâu. Vì thế, nó xảy ra sự tranh chấp giữa gia đình và bên hệ thống y tế. Bên hệ thống y tế nói em này chưa có qua đời, chưa có chết thành ra là người ta không có đồng ý hiến tạng. Đến khi hai bên không đồng ý thì mới kéo nhau ra tòa.
Nhìn lại đề xuất mới nhất của Việt Nam, với trường hợp người sống dưới 18 tuổi muốn hiến mô tái sinh, theo quy định đã bắt buộc có văn bản đồng ý của cả cha mẹ đẻ, cũng đã có quy định trẻ phải được tư vấn độc lập. Nhìn ở góc độ minh bạch, đảm bảo tính tự nguyện của trẻ, ông đánh giá thế nào?
Cái chữ gọi là tư vấn độc lập mình phải làm rõ. Tư vấn độc lập có nghĩa là gì? Ví dụ như độc lập là độc lập về cái gì? Họ có được quyền gặp riêng mỗi trẻ em hay không? Tôi nghĩ rằng phải ra những quy định cụ thể thì mới thuyết phục hơn.
Tôi nghĩ có ba biện pháp. Cái thứ nhất là trẻ em phải được thông báo rõ ràng là mình có quyền từ chối mà không giải thích lý do.
Cái thứ hai, có quyền đề nghị hội đồng ngưng quy trình nếu đứa trẻ phản đối hoặc là có dấu hiệu bị ép buộc. Tức là không có ai có quyền tuyệt đối cả. Tất cả đều là hội đồng và tập thể quyết định.
Cái thứ ba là nếu xuất hiện sự bất đồng giữa đứa trẻ và ba má thì vụ việc phải được chuyển đến hội đồng độc lập hoặc là một cơ quan thẩm quyền.
Còn đối với những trường hợp mà có xung đột lợi ích nghiêm trọng hoặc là trẻ em mà không có khả năng bày tỏ ý kiến thì tôi nghĩ cần phải có sự phê chuẩn của một cơ quan có thẩm quyền độc lập. Thậm chí là như trường hợp của Úc phải lên đến tòa án.
Với trường hợp cho phép người dưới 18 tuổi hiến bộ phận cơ thể sau khi qua đời, điều kiện là người này đã được Hội đồng chuyên môn độc lập xác định chết não hoặc chết tuần hoàn, đã đăng ký hoặc có nguyện vọng hiến trước khi chết và được cha mẹ/người giám hộ đồng ý bằng văn rbản. Trong trường hợp này, ông đánh giá thế nào?
Lập hội đồng chuyên môn thì tôi nghĩ đó là một điều rất là cần thiết, đây cũng là biện pháp cũng đáng ghi nhận.
Nhưng mà chất lượng của quy trình phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán chứ không phải là đánh giá bao nhiêu lần. Nếu mà chặt chẽ thì phải trả lời được ba câu hỏi: Ai chịu trách nhiệm thực hiện, theo cái tiêu chuẩn nào và ai có quyền kiểm tra hoặc là can thiệp khi mà có sai phạm.
Cái việc mà xác định chết brain hay là chính xác hơn là tử vong theo cái tiêu chuẩn thần kinh đòi hỏi quy trình chuyên môn nghiêm ngặt. Ở trẻ em đặc biệt là trẻ em sơ sinh có những đặc điểm khác với người lớn nên là các bác sĩ phải loại trừ những yếu tố có thể làm sai lệ kết quả, chẳng hạn: thuốc an thần, hạ thân nhiệt hoặc là các rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng… thì các bác sĩ phải làm hết những cái đó.
Tôi nghĩ rằng Việt Nam hay là Bộ Y tế nên có những hướng dẫn chuyên môn riêng cho trẻ em chứ không đơn giản là áp dụng toàn bộ cái quy trình của người lớn cho trẻ em.
Khi mà một đứa trẻ hay là bất cứ ai mà đồng thuận thì là phải đồng thuận trong điều kiện Thứ nhất là tôi hiểu tôi đồng thuận về cái vấn đề bì và cái thứ hai là tôi đồng thuận trong lúc tôi còn tỉnh táo. Ví dụ tôi đang nằm trên cái giường bệnh rồi bác sĩ đưa đưa cho tôi tờ giấy nói rằng anh có đồng thuận không. Tôi đau gần chết thành nên là tôi phải ký vô đó cho nó xong thì cái đó không phải là đồng thuận, phải là đồng thuận trong lúc tỉnh táo. Và nếu mà sự đồng thuận trong những tình huống như thế thì không được xem là đồng thuận thật sự.
Từ kinh nghiệm của Australia, ông còn những đề xuất nào cho Việt Nam khi triển khai dự luật hiến mô, tạng?
Chúng ta cần phải có những dữ liệu về an toàn lâu dài ở những trẻ em hiến mô.
Có lần tôi tham gia vào một nghiên cứu ngắn với một đồng nghiệp ở Hiệp hội chuyên về thận, thì tôi rất là ngạc nhiên là họ thu thập tất cả những ca được ghép thận và hiến thận, đầy đủ đến nỗi mình khó tưởng tượng được.
Ví dụ như bệnh nhân vô bệnh viện ngày nào, xuất viện ngày nào, dùng thuốc gì và trong quá trình đó có những biến chứng gì rồi triệu chứng ra làm sao. Tất cả những cái đó có đầy đủ hết trơn. Nó giống như là lịch sử cá nhân cho mỗi một người hiến và nhận được cái tạng.
Cái dữ liệu luôn vô cùng có ích để cho mình đánh giá được sự thích hợp và lợi ích của việc ghép tạng đối với người được điều trị và được nhận. Dữ liệu nó vô cùng quan trọng cho việc hoạch định chính sách.
Mình cần phải có một cơ sở dữ liệu cấp quốc gia và học theo kinh nghiệm của các nước đi trước như Mỹ, Úc để biết rằng, cơ sở dữ liệu đó mình thu thập những gì và cách vận hành cũng như là bảo mật nó ra làm sao, thì tôi nghĩ rằng nó sẽ thuyết phục hơn cho xã hội và công chúng.
Còn đối với những trẻ em mà hiến mô khi còn sống mình cần phải theo dõi sức khỏe về thể chất và sức khỏe, tâm lý về lâu dài, kể cả về ghép tạng cho những người mà không thành công. Mình xây dựng hệ thống giám sát theo dõi lâu dài để bảo đảm sự an toàn cho những trẻ em hiến mô.
Tôi nghĩ không có hệ thống nào hoàn hảo đâu. Nhưng kinh nghiệm của Úc cho thấy rằng niềm tin của công chúng phải đến từ quy trình, tiêu chuẩn phải minh bạch và có sự kiểm tra và có trách nhiệm giải trình, đồng thời có sự tham gia của gia đình.
Xin cảm ơn ông.
Xin thông tin thêm đến quý vị:
Sau lo ngại nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý và khả năng trẻ bị người thân gây áp lực, Bộ Y tế đã có một số điều chỉnh lại đề xuất liên quan hiến mô, tạng ở trẻ, cụ thể:
Quốc hội dự kiến biểu quyết thông qua dự án luật ngày 21/11. Luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2028.
Email sẽ được bảo mật, chúng tôi chỉ sử dụng để liên lạc khi cần tìm hiểu thêm thông tin về góp ý của bạn
Ý kiến của bạn giúp VnE-GO ngày càng tốt hơn.
Chúng tôi luôn lắng nghe để cải thiện trải nghiệm của bạn
解説
コメントはまだありません