Mỗi mùa du lịch, làn sóng cấm nhựa tại Ấn Độ lại rộ lên, khi rác thải từ đồ ăn nhanh, chai nước hay cốc mang đi "phủ" đầy đồng cỏ, mặt hồ. Từ những năm 2000, cấm túi nilon đã được thực hiện tại các bang của Ấn Độ, trước khi chính phủ triển khai trên cả nước vào 2022. Tuy nhiên, túi nilon và đồ nhựa một lần vẫn hiện diện tại quốc gia đông dân nhất thế giới.
Indonesia cũng gặp tình trạng tương tự. Ở Bali, địa phương đầu tiên tại nước này cấm túi nilon vào năm 2019, tiểu thương tại chợ truyền thống vẫn cung cấp túi cho người dân. Còn tại thủ đô Jakarta, tờ Jakarta Post cho biết chính sách cấm sản phẩm này ban hành từ năm 2020, song chỉ hiệu quả trong 6 tháng đầu tiên, sau đó thất bại.
Nhựa một lần hội tụ nhiều ưu điểm như bền, chống thấm nước, bảo quản tốt đồ chứa, chi phí thấp, nhưng rất khó phân hủy. Đơn cử, một chai nhựa cần 450-1.000 năm để phân rã dần thành các mảnh nhỏ hơn, và cuối cùng lại hình thành vi nhựa - những mảnh nhựa nhỏ vỡ vụn thành siêu nhỏ, len lỏi trong đất và đại dương, gây hại tới hệ sinh thái và sức khỏe con người.
Công nhân làm việc tại một trạm tái chế nhựa ở vùng ngoại ô Agartala, bang Tripura, Ấn Độ, ngày 22/4/2022. Ảnh: Tân Hoa Xã
Lo ngại ngày càng tăng về vật liệu này chính là lý do các chính phủ tìm kiếm chính sách hiệu quả nhằm giảm thiểu rác nhựa, gồm lệnh cấm.
Tuy vậy, chuyên trang về khí hậu Climate Action nhận định lệnh cấm này tạo cảm giác như "một đòn giáng mạnh mẽ, dứt khoát, như thể vấn đề đã được giải quyết tận gốc".
Song thực tế, bà Swathi Seshadri, chuyên gia tại Viện Kinh tế năng lượng và Phân tích tài chính (Mỹ), cho biết chính sách này hướng vào khâu tiêu thụ, nhưng nguyên nhân thực sự nằm ở thượng nguồn, tức là toàn chuỗi cung ứng, gồm khâu sản xuất.
"Chừng nào dây chuyền sản xuất nhựa còn hoạt động, việc tiêu thụ vẫn tồn tại bằng cách này hay cách khác", bà nói.
Trong khi đó, năng lực sản xuất thường vượt xa các biện pháp kiểm soát chính sách ở khâu hạ nguồn. Hệ quả là, nếu một mặt hàng nhựa nào đó bị cấm, các loại hàng khác cùng vật liệu vẫn được sản xuất, nhằm đảm bảo không gián đoạn chuỗi sản xuất - tiêu thụ.
Kẽ hở trong thiết kế chính sách này cũng được nhóm chuyên gia từ Viện Hóa học gỗ nhà nước Latvia (LSIWC) và Đại học Tartu (Estonia) chỉ ra, sau khi phân tích hiệu quả chính sách từ 10 quốc gia cấm và hai nước áp phí lên túi nilon, nhựa một lần.
Ví dụ, EU hướng chính sách vào túi nilon mỏng (dày hơn 15µm và dưới 50µm), loại trừ túi siêu mỏng (dưới 15µm), vốn thường dùng để bảo quản thực phẩm rời, nhằm ngăn ngừa lãng phí trong quá trình lưu trữ, bày bán. Nhiều người dùng đối phó bằng cách lồng hai túi siêu mỏng, nhằm đạt độ chịu tải cần thiết, thay thế loại một lần.
Nhằm gia tăng quản lý từ thượng nguồn, nhiều chính phủ buộc nhà sản xuất chia sẻ trách nhiệm xử lý rác thải. Ấn Độ đã áp dụng chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) với bao bì nhựa, buộc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" vào năm 2022.
Dù nhiều địa phương tại Indonesia cấm nhựa một lần từ năm 2019, chính sách với nhà sản xuất mới được đưa vào dự thảo nghị định của chính phủ nước này trong năm nay.
Các chính sách hạn chế túi nilon dùng một lần ở một số quốc gia. Đồ họa: Bảo Bảo
Ở khâu tiêu thụ, thói quen người dùng là rào cản lớn nhất. Bởi lẽ, nhận thức, kỳ vọng và hành động thực tế của người dân là khác nhau. Tại Nepal, Mạng lưới Kinh tế môi trường và Phát triển Nam Á (SANDEE) khảo sát hơn 1.300 người dân năm 2016, phát hiện rằng 84% người ủng hộ lệnh cấm túi nilon, nhưng chỉ 14% thực sự dùng túi tái sử dụng. Mỗi cá nhân có thể mong muốn xây dựng hình ảnh bản thân có ý thức về môi trường hơn so với thực tế, trong khi lại cho rằng tác động trực tiếp từ hành vi của họ là không đáng kể.
Bên cạnh đó, nhiều trường hợp sẽ tìm cách chuyển sang sản phẩm nhựa không bị cấm hoặc áp phí. Tại Bồ Đào Nha và Hy Lạp, việc áp phí túi mua sắm thúc đẩy người dân tăng mua loại túi đựng rác để dùng thay. Tính riêng Hy Lạp, trong năm 2017-2019, lượng túi mỏng dùng trong kênh siêu thị giảm từ 1,8 tỷ chiếc xuống còn hơn 24 triệu. Ngược lại, số túi rác tăng thêm 40% trong hai năm.
Nhóm chuyên gia từ LSIWC và Đại học Tartu cho biết các nước cấm hoặc áp phí túi có thể đạt được hiệu quả nhất định khi áp dụng cơ chế thực thi đồng bộ, kèm mức phạt đủ răn đe. Chẳng hạn, Rwanda trở thành "Singapore của châu Phi" nhờ hệ thống pháp luật nghiêm ngặt. Tại đây, nhựa bị giám sát như "ma túy". Người vi phạm lệnh cấm sử dụng túi nilon và doanh nghiệp sản xuất trái phép có thể chịu phạt tù tối đa 1 năm.
Còn Ireland áp phí túi 0,15 EUR (khoảng 4.000 đồng) cho mỗi túi nilon từ năm 2002, gấp 6 lần mức sẵn sàng chi trả của người dân thời điểm đó. Mức này tăng lên 0,22 EUR (khoảng 6.000 đồng) vào 2007. Phí được chuyển vào Quỹ Kinh tế tuần hoàn, hỗ trợ sáng kiến giảm thiểu chất thải và thúc đẩy hoạt động tái sử dụng, tái chế. Theo cập nhật năm 2024 của chính phủ nước này, họ giảm được 92% túi nilon so với mốc 2002.
Một người bán hàng đóng gói cá khô vào túi giấy tại chợ Kimironko ở Kigali, Rwanda, ngày 14/7/2022. Ảnh: Tân Hoa Xã
Các chính sách siết đồ nhựa dùng một lần cũng ảnh hưởng tới khâu thải bỏ, khi doanh nghiệp, người dùng vội vã tìm kiếm vật liệu thay thế. Tình trạng này gia tăng áp lực lên hệ thống xử lý rác thải hiện hành, vốn không được thiết kế cho vật liệu mới, như bao bì giấy tráng nhựa. Indumathi, Giám đốc điều hành đơn vị thu gom rác thải tại Bengaluru (Ấn Độ), cho biết vật liệu thay thế khiến tình hình tồi tệ hơn, sau khi thành phố này cấm nhựa một lần vào năm 2014. Việc sử dụng vật liệu mới nhưng thiếu quản lý chặt chẽ có thể làm ô nhiễm chuỗi thu gom tái chế, do khó phân loại.
Các chuyên gia nhấn mạnh một chính sách giảm nhựa hiệu quả bền vững cần hướng tới cải thiện hệ thống sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ toàn diện, thay vì chỉ xử lý "phần ngọn" ở khâu tiêu thụ (cấm hoặc áp phí). Nhà hoạch định chính sách cần áp dụng nguyên tắc chỉ cho phép sản xuất nhựa với ứng dụng thực sự cần thiết.
Bên cạnh đó, việc giảm nhựa cần sự tham gia của cả nhà sản xuất và bán lẻ. Trong đó, kênh chợ truyền thống cần được tham vấn thận trọng, trong bối cảnh tiểu thương bán hàng tươi sống khó tìm túi đựng thay thế nilon.
Với người dân, việc sống xanh nên được khuyến khích, thay vì truyền thông tập trung vào cấm đoán, cảnh báo. Phí áp lên túi nilon (nếu có) cần minh bạch sử dụng nguồn thu, nhằm gạt bỏ nghi ngại của cộng đồng khi thực thi chính sách. Vật liệu thay thế nhựa cũng cần được cân nhắc đồng bộ với cơ sở hạ tầng phân loại, thu gom và xử lý, tránh tình trạng gây áp lực lên hạ tầng quản lý rác thải địa phương.
Bảo Bảo (theo Climate Action, LSIWC, Jakarta Post)
คําอธิบาย
ยังไม่มีความคิดเห็น