Năm 1843, một thợ mộc Scotland tên là Daniel M'Naghten nung nấu ý định ám sát Thủ tướng Anh Robert Peel. Do nhận dạng nhầm, hắn bắn chết thư ký riêng của thủ tướng ngay giữa ban ngày.

Tại tòa, loạt bác sĩ tâm thần xác nhận M'Naghten bị điên loạn nặng. Hắn vì thế được tòa tuyên án vô tội.

Phản ứng dữ dội của Nữ hoàng Victoria và công chúng Anh lúc bấy giờ cũng giống như tâm trạng dư luận hiện đại khi hay tin các đại gia, giang hồ cộm cán bỗng dưng "lâm bệnh nặng" để né vành móng ngựa.

Sự phẫn nộ ấy lớn đến mức Thượng viện Anh phải triệu tập toàn bộ thẩm phán tối cao để định hình lại bộ quy chuẩn ngặt nghèo nhất lịch sử: Tiêu chuẩn M'Naghten.

Đây là bài kiểm tra pháp lý đầu tiên và phổ biến nhất được áp dụng trong hệ thống thông luật để xác định xem một bị cáo có phạm tội trong tình trạng mất trí hay không, để có cơ sở miễn trừ hoặc kết tội.

Thế giới từ đó buộc phải dựng lên những hàng rào kiên cố hơn để ngăn chặn việc y học bị lũng đoạn bởi đồng tiền.

Nhưng 130 năm sau, lịch sử vẫn lặp lại.

Năm 1973, nhà tâm lý học Mỹ David Rosenhan thực hiện một thí nghiệm chấn động khi cử 8 người tỉnh táo, thông minh và khỏe mạnh đến các bệnh viện tâm thần xin nhập viện với một triệu chứng duy nhất là khai "nghe thấy tiếng động lạ: trống rỗng, nặng trịch".

Kết quả, cả 8 người được chẩn đoán là tâm thần phân liệt và bị đưa vào viện. Khi vào trong, họ trở lại bình thường và khai thật với bác sĩ, nhưng hệ thống vẫn nhốt họ từ 7 đến 52 ngày, bắt uống hàng nghìn viên thuốc.

Thí nghiệm của Rosenhan chứng minh một chân lý phũ phàng: Một hệ thống y tế khép kín, độc quyền và thiếu cơ chế kiểm chứng có thể biến người bình thường thành điên, hay một kẻ phạm tội thành "bệnh nhân vô tội".

Lỗ hổng đó đã lặp lại trong vụ án xảy ra tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương và được TAND Hà Nội chỉ ra khi tuyên án: Cơ chế giám sát an ninh lỏng lẻo; hội đồng giám định tâm thần mang tính "độc quyền", đến từ cùng một đơn vị; không có cấp giám định cao hơn để hủy bỏ các kết luận có dấu hiệu sai lệch.

Vụ án vừa được xét xử này có yếu tố giống phiên bản của thí nghiệm Rosenhan nêu trên, nơi sự khép kín và quyền lực tập trung vào một nhóm nhỏ đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng nảy mầm.

Ranh giới giữa điều trị và giam giữ tư pháp

Khía cạnh quan trọng tại vụ án Viện Pháp y tâm thần Trung ương là việc quản lý lỏng lẻo bệnh nhân là can phạm nguy hiểm. Những trường hợp này đang điều trị bắt buộc nhưng vẫn có thể "biến mất" khỏi phòng bệnh, ra ngoài ăn nhậu, đánh bạc, chơi ma túy, sinh hoạt tự do như người thường.

Trên thế giới, tại Canada, Anh hay hệ thống REMS của Italy (Residenze per l'Esecuzione delle Misure di Sicurezza - Khu dân cư để thực thi các biện pháp an ninh) việc quản lý tội phạm tâm thần được áp dụng mô hình an ninh phân tầng cực kỳ khắt khe.

Hệ thống an ninh cao được vận hành với tiêu chuẩn kiểm soát nghiêm ngặt không thua kém nhà tù an ninh tối cao. Lực lượng an ninh nhà nước túc trực phối hợp chặt chẽ cùng nhân viên y tế.

Các cơ sở cũng được áp dụng công nghệ giám sát toàn trình. Mọi di chuyển, phòng bệnh, khu vực sinh hoạt đều được phủ sóng camera giám sát 24/7 và kiểm soát bằng thẻ từ số hóa.

Bệnh nhân không thể "đi dạo" ra ngoài cổng viện mà không có lệnh trích xuất đồng thời của cả cơ quan an ninh và hội đồng điều trị. Ranh giới giữa điều trị y tế và giam giữ tư pháp được phân định rõ ràng bằng những bức tường thép và công nghệ kiểm soát tự động.

Lực lượng bảo vệ vũ trang chuyên nghiệp khiến cho hành vi "dúi bao thuốc, cốc nước chè" cho những bảo vệ gần 70 tuổi để mở cổng trốn ra ngoài, trở thành việc bất khả thi.

Ai kiểm chứng một kết luận có thể quyết định số phận một con người?

Tại sao bác sĩ lại dễ ký giấy chứng nhận tâm thần đến vậy? Tại vụ án ở Viện Pháp y tâm thần Trung ương, bà trùm thao túng nơi đây, bị cáo Mai Anh, khai đã dặn đồng phạm: "Nhớ diễn triệu chứng tuyệt thực, la hét, tự gây thương tích, mất ngủ, đập phá, nói nhảm, ảo tưởng...".

Các bác sĩ sau khi nhận hối lộ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng cũng sửa hồ sơ cho những người này thành "có lúc tỉnh, tiếp xúc có lúc hằn học, có lúc căng thẳng lo lắng" cho phù hợp với định hướng kết luận bệnh tâm thần.

Trong khi đó, hệ thống pháp y tâm thần hiện đại trên thế giới bắt buộc phải áp dụng các bộ công cụ đánh giá chuyên nghiệp chuẩn hóa. Ví dụ, bộ công cụ HCR-20 để đánh giá nguy cơ bạo lực, hay PCL-R để đo lường mức độ rối loạn nhân cách và hành vi lệch chuẩn.

Các bộ công cụ chuẩn hóa có tích hợp các thang đo phát hiện giả mạo. Chúng có thể nhận diện ngay lập tức nếu một người đang cố "làm quá" các triệu chứng.

Ví dụ: Người bị tâm thần thật sự thường che giấu hoặc lúng túng khi kể về ảo giác của họ. Trong khi kẻ giả mạo thường khoe khoang, trưng ra các triệu chứng "sách giáo khoa" một cách quá hoàn hảo. Công cụ SPJ sẽ bắt trọn sự bất hợp lý này.

Mọi câu trả lời trong buổi phỏng vấn lâm sàng sử dụng công cụ chuẩn hóa đều được ghi hình, ghi âm và lưu trữ trên hệ thống dữ liệu mã hóa.

Khi cơ quan thanh tra hoặc kiểm toán tư pháp vào cuộc, họ có thể "xem lại băng hình" để đối chiếu xem bác sĩ có thực hiện đúng quy trình chấm điểm hay có dấu hiệu "nhắm mắt làm ngơ", bóp méo kết quả để nhận hối lộ hay không.

Mỗi kết luận trong bản giám định không thể viết chung chung theo cảm nhận cá nhân mà phải giải trình dựa trên hàng chục chỉ số định lượng, bài test tâm lý có thể kiểm chứng lặp đi lặp lại.

Nếu một bác sĩ đưa ra kết luận bất thường so với dữ liệu test, họ sẽ ngay lập tức phải đối mặt với các hội đồng thẩm định độc lập và những cuộc chất vấn nảy lửa tại tòa án, nơi mọi lỗ hổng lập luận đều bị phơi bày dưới ánh sáng của khoa học thực chứng.

Thiết kế cơ chế kiểm chứng kết luận giám định

Ở Việt Nam, như TAND Hà Nội chỉ ra, tiêu cực dễ nảy sinh từ cơ chế: Một hoặc một nhóm bác sĩ tại cơ sở giám định có thể đưa ra kết luận mang tính định đoạt số phận pháp lý của một nghi can.

Quyền lực này quá lớn, dễ trở thành thứ hàng hóa đặc biệt được đem ra ngã giá, như trong vụ án thể hiện đến vài tỷ đồng. Không có sự tham gia của các bên thứ ba, chữ ký của một vài cá nhân vô tình trở thành "quyền năng tối cao" định đoạt.

Như cáo trạng của VKSND Tối cao chỉ ra, Hội đồng giám định tâm thần, thực tế chỉ gồm 3 người: chủ trì (thường là viện trưởng, viện phó), thành viên và thư ký. Những ràng buộc hành chính nội bộ "cấp trên - cấp dưới" trong mô hình Hội đồng này đã dẫn đến việc kết quả khó khách quan, độc lập.

Bộ Y tế do đó cần thay đổi quy trình này, TAND Hà Nội kiến nghị trong bản án tuyên ngày 7/10.

Nhiều nước trên thế giới giải quyết bài toán độc quyền này bằng cơ chế Hội đồng giám định đa chuyên ngành (Multi-disciplinary Forensic Panel).

Cảnh phim Bay trên tỏ chim cúc cu, với nhân vật chính là Randle McMurphy- Jack Nicholson thủ vai (thứ hai từ trái), một gã tội phạm bất trị, giả vờ hoặc bị nghi ngờ mắc bệnh tâm thần để trốn án tù lao động nặng. Ảnh: Upstate films

Cảnh phim Bay trên tổ chim cúc cu, với nhân vật chính là Randle McMurphy - Jack Nicholson thủ vai (thứ hai từ trái), một gã tội phạm bất trị, giả vờ hoặc bị nghi ngờ mắc bệnh tâm thần để trốn án tù lao động nặng. Ảnh: Upstate films

Tại châu Âu, số phận của bản giám định tâm thần không do một bệnh viện tự quyết định. Nó đòi hỏi sự tham gia của một "liên minh" độc lập gồm: bác sĩ tâm thần pháp y, chuyên gia tâm lý học tội phạm, nhà thần kinh học lâm sàng và đại diện cơ quan tư pháp.

Các thành viên này đến từ các cơ quan khác nhau, không chịu sự chi phối hành chính từ nhau. Kết luận cuối cùng không phải là bút phê cá nhân của một viện trưởng hay bác sĩ trưởng khoa mà là kết quả của sự biểu quyết, tranh biện và kiểm chứng chéo gắt gao qua nhiều tầng thẩm định.

Sự đan chéo này "làm khó" kẻ gian lận, vì việc thao túng một tập thể đa ngành, đa cơ quan khó hơn gấp nhiều lần so với việc "đi đêm" với một vài cá nhân.

Trong hệ thống tố tụng đối kháng (Adversarial Expert Review), với các vụ án trọng điểm, luật sư bào chữa hoặc cơ quan công tố đều có quyền trưng cầu các chuyên gia tâm thần pháp y độc lập từ các viện nghiên cứu, trường đại học khác để phản biện lại bản giám định ban đầu.

Sự "cạnh tranh sòng phẳng" về học thuật và pháp lý này tạo ra một áp lực khổng lồ. Việc này sẽ hạn chế việc bác sĩ hay hội đồng giám định bán rẻ lương tâm, bởi biết rằng kết luận sai lệch của mình sẽ bị mổ xẻ, bóc trần dưới ánh sáng khoa học trước hội đồng xét xử và công luận.

Đi kèm với đó là hệ thống Kiểm toán dữ liệu số (Digital Audit Trail), nơi mọi hồ sơ, video phỏng vấn lâm sàng đều được mã hóa lưu trữ quốc gia, cho phép thanh tra đột xuất bất cứ lúc nào để phát hiện những hồ sơ gian lận.

Hải Thư (Theo Law Library, ResearchGate, Science History Institute)