Bắc Kinh choáng ngợp bởi sự hùng vĩ và đăng đối, New York bởi rừng tháp cao tầng, Paris bởi trục tầm nhìn dài cả chục cây số, còn Amsterdam lại nhỏ xinh, gần gũi - gần với Hà Nội hơn cả. Đó là thành quả của những nguyên lý quy hoạch cốt lõi mà người xưa đã đặt ra.

Nếu cần tìm một nguyên lý cho việc quy hoạch, chỉnh trang Hồ Gươm, tôi bắt đầu từ câu hỏi giản dị: Điều gì làm nên cảm giác Hồ Gươm?

Hồ Gươm nhỏ, nếu so với Hồ Tây. Những công trình ven hồ cũng dung dị. Tháp Rùa, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu, tháp Hòa Phong, hay tượng vua Lê đều khiêm nhường về khối tích. Ngay cả quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục cũ cũng chỉ là một bùng binh giao thông nhỏ.

Tất cả cộng hưởng thành một tổng thể duyên dáng, làm nên cá tính độc đáo của Hồ Gươm: nhỏ xinh, khiêm nhường, dung dị.

Cảm thức về sự nhỏ nhắn ấy được hình thành bởi tổng thể cấu trúc cả khu vực bao quanh. Khu Phố Cổ "ngõ nhỏ, phố nhỏ" chạy dài về phía hồ: phía Tây là Hàng Hành, Bảo Khánh; phía Đông là Hàng Dầu, Bờ Hồ, Đinh Lễ. Đường nhỏ, hè nhỏ, mặt tiền nhỏ, không gian gần gũi, nhịp sống thanh bình. Chỉ khi chạm tới những con đường vòng quanh hồ, không gian và trải nghiệm cảm xúc mới rộng ra hơn: đường lớn, hồ lớn, hàng cây lớn.

Trong quy hoạch kiến trúc, tỷ xích - tức tỷ lệ của không gian và công trình so với con người - là một yếu tố quan trọng. Với Hồ Gươm, tỷ xích gần gũi con người chính là một phần cá tính của nơi chốn.

Ngắm Hồ Gươm từ những tấm bưu thiếp cũ chụp lưng chừng cao, ta thấy rõ hơn điều đó: Mặt nước xanh lục hiện ra trước, rồi đến lớp cây xanh. Phần lớn công trình xung quanh được xây thấp tầng, chìm vào rặng cây, không lấn át Tháp Rùa, Ngọc Sơn hay đền Bà Kiệu. Sau này, một số công trình mới mọc lên phá vỡ quy tắc này, phần nào khiến không gian Hoàn Kiếm trở nên xô bồ, kém thoáng đãng.

Từ một cái hồ bao quanh bởi không gian mang đậm văn hóa phố thị ven sông, Hồ Gươm, dưới thời Pháp thuộc, trở thành nơi giao thoa giữa hai không gian dường như đối lập. Một bên là khu phố cổ bản địa. Một bên là khu phố Pháp hiện đại với không gian lớn hơn, có đại lộ, quảng trường đăng đối và những trục nhìn xa của đô thị châu Âu.

Người Pháp khéo cân bằng hai thế giới để Hồ Gươm vừa có sự khoáng đạt của quy hoạch châu Âu, vừa có sự thân mật của đô thị Việt. Khi "nhập khẩu" nguyên lý quy hoạch đô thị vào Việt Nam, kiến trúc sư Ernest Hébrard đã tinh tế điều chỉnh chúng theo khí hậu, cây xanh, vật liệu và đời sống địa phương. Kết quả là một trung tâm thành phố đủ rộng để tạo tầm nhìn, nhưng vẫn giữ được cảm giác gần gũi.

Nhưng Hà Nội bây giờ không còn là đô thị nhỏ nằm cạnh sông Hồng, mà đã thành đại đô thị gần 10 triệu dân. Mở rộng, tái thiết, hiện đại hóa là cần thiết. Với khu vực lõi Hồ Gươm, đồ án có những điểm sáng về quy hoạch: mở rộng quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, kết nối trục Nhà Thờ Lớn ra hồ, tổ chức không gian ngầm nhiều tầng kết nối ga metro, để dành mặt đất cho quảng trường, cây xanh và người đi bộ, kéo dài trục kết nối Hồ Gươm - Nhà Hát Lớn ra bờ sông Hồng.

Nhưng không phải cứ mở rộng quảng trường là tốt. Nếu thiết kế không tinh tế, không gian rộng hơn, lát đá to đẹp hơn có thể đáp ứng công năng xã hội nhưng lại tạo cảm giác chống chếnh, xa lạ với cá tính vốn có của Hồ Gươm.

Đơn vị tư vấn cũng xác định một mục tiêu quan trọng của đồ án là tạo sự hài hòa giữa các công trình có giá trị từ trước với kiến trúc hiện đại trong tương lai. Nhưng hài hòa không chỉ là câu chuyện hình thức. Trước hết là câu chuyện tỷ xích.

Hồ Gươm cần không gian mở hơn, chứ không cần công trình hoành tráng hơn. Bê nguyên thủ pháp quy hoạch Pháp vào đây, vì thế, rất dễ thất bại. Khải hoàn môn cao 36 m đang gây xôn xao là ví dụ điển hình.

Sự lệch pha nằm ở nhiều tầng. Trước hết là ý nghĩa văn hóa: Khải hoàn môn ở phương Tây là biểu tượng ngợi ca chiến thắng, đặt trên các đại lộ nghi lễ để đón đoàn quân viễn chinh trở về - một biểu tượng phô diễn quyền lực và vinh quang. Đặt một biểu tượng như vậy vào Hồ Gươm, không gian của hòa bình và vẻ đẹp khiêm nhường, là sự khiên cưỡng.

Dân tộc ta yêu hòa bình, tôn vinh chiến thắng bằng sự tri ân nhân văn những người ngã xuống qua các đài tưởng niệm. Nếu tìm một "khải hoàn môn" đúng nghĩa Việt Nam, Hà Nội đã có từ lâu: Đài tưởng niệm Bắc Sơn (1994) của cố kiến trúc sư Lê Hiệp tại quảng trường Ba Đình - một kiệt tác vượt thời gian về tính biểu tượng, nét mỹ cảm cân bằng truyền thống - hiện đại và khối tích khiêm nhường.

Về công năng và tỷ xích, một công trình cao 36m vươn hẳn khỏi tán cây và hệ điểm nhấn lịch sử quanh hồ là quá hoành tráng, lấn át không gian xung quanh.

Còn nếu luận điểm quy hoạch nói về sự cần thiết đánh dấu điểm cuối của trục tưởng tượng Bắc - Nam nối Tháp Rùa và đền Ngọc Sơn, tôi thiên về những cách dung dị hơn: một tượng đài nhỏ, điêu khắc thanh thoát, một mốc Km0 tinh tế... Cần xác lập nguyên tắc chiều cao cùng cấp độ thị giác với Tháp Rùa và đền Ngọc Sơn, để đánh dấu trục mà không lấn át các biểu tượng lịch sử lâu đời.

Ngoài khải hoàn môn, đề xuất tòa nhà UBND mới cao 9 tầng, tháp tài chính Quốc tế hay bảo tàng mới bên hồ đều đặt ra cùng một bài toán khối tích và tỷ xích. Khi chèn thêm quá nhiều công trình đồ sộ ven hồ, vẻ duyên dáng và dung dị vốn có của không gian rất dễ bị phá vỡ.

Như mọi cơ thể đô thị, Hồ Gươm cũng cần hoàn thiện mình và khắc phục những bất cập trong dòng chảy thời đại. Nhưng nếu phải chọn một nguyên lý để dẫn đường, tôi vẫn muốn bắt đầu từ những cá tính và hồn của nơi chốn kết tinh qua nhiều thế hệ.

Lớn ở khoảng trống, nhỏ ở vật thể. Rộng mở về không gian, tiết chế về khối tích.

Hồ Gươm đã đủ lớn trong ký ức người Hà Nội. Việc của quy hoạch trăm năm có lẽ không cần làm cho nó lớn hơn, mà là không để những thứ quá "hoành tráng" khiến nó nhỏ bé đi.

Tô Kiên