Trong các cuộc trao đổi của chúng tôi với lãnh đạo Uber, Gojek, Grab, một câu hỏi luôn được đặt ra là "đảm bảo quyền lợi toàn diện" của các tài xế mà họ gọi là "đối tác". Thời gian đầu, câu hỏi này gần như không có câu trả lời, quyền lợi của đối tác có thể kết thúc ngay khi dừng cuốc xe. Đó đơn giản là mô hình kinh doanh của họ và thuật toán không có thỏa hiệp nào khác.

Ý niệm kinh tế chia sẻ (sharing economy) sinh ra từ Thung lũng Silicon xoay quanh việc khai thác công suất nhàn rỗi. Một nhân viên văn phòng ở London hay California sau giờ làm có thể bật ứng dụng Uber chạy 2-3 tiếng để kiếm thêm tiền xăng xe, hoặc cho thuê căn phòng trống trên Airbnb cuối tuần. Nguồn sống chính, lưới an sinh, bảo hiểm y tế và lương hưu phần lớn vẫn neo vào một công việc chính thức trong nền kinh tế truyền thống hoặc hệ thống phúc lợi xã hội của nhà nước.

Tuy nhiên, Việt Nam không tiếp nhận "kinh tế chia sẻ" như một trào lưu công nghệ thông thường. Mô hình kinh tế du nhập vào Việt Nam nhanh chóng trút bỏ lớp vỏ "chia sẻ tài sản nhàn rỗi" để biến thành một nghề mưu sinh toàn phần. Tại phương Tây, nếu nền tảng cắt giảm ưu đãi, tài xế có thể đơn giản là tắt ứng dụng và quay về công việc chính. Nhưng tại Việt Nam thì không.

Các nền tảng không sản xuất thêm xe hay xây dựng thêm nhà hàng, chúng tối ưu hóa việc khai thác các tài sản tư nhân chưa được tận dụng triệt để. Tại một thị trường có hơn 84 triệu xe máy đăng ký trên quy mô dân số 100 triệu người, tỷ lệ thâm nhập điện thoại thông minh vượt 80% cùng cơ cấu dân số trẻ nhạy bén công nghệ, các điều kiện biên cho một mạng lưới kinh tế nền tảng đã hội tụ hoàn hảo. Quy mô tài xế càng lớn, thời gian chờ của khách càng giảm, lượng khách đặt chuyến càng nhiều, càng lôi kéo thêm lực lượng lao động bật ứng dụng.

Các nền tảng nhanh chóng phát triển thành "siêu ứng dụng", mở rộng sang giao vận thực phẩm, thương mại điện tử vi mô và thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng trở thành hạ tầng phân phối số cho các hộ kinh doanh cá thể, khu vực vốn đóng góp tới một phần ba GDP Việt Nam, giúp tiểu thương tiếp cận thị trường tiêu dùng rộng lớn mà không phải chịu chi phí mặt bằng đắt đỏ.

Nhưng quy luật kinh tế học vốn dĩ không có "bữa trưa miễn phí". Trong giai đoạn thâm nhập thị trường, người tiêu dùng và tài xế được hưởng lợi lớn nhờ thặng dư tạo ra từ các chiến dịch "đốt tiền" trợ giá của các quỹ đầu tư mạo hiểm. Khi cuộc chơi chuyển từ tìm kiếm thị phần sang tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, cấu trúc khốc liệt của thị trường hai phía dần bộc lộ. Đâu đó đã có những cuộc "đình công" tắt app, nhưng tất cả vẫn như sự im lặng ban đầu của các nền tảng khi nói về gia tăng quyền lợi cho tài xế.

Nhiều chủ quán ăn nhỏ từng kỳ vọng vào mức doanh thu đột biến từ đơn hàng trực tuyến nay đối diện mức phí 25%-30%. Họ rơi vào thế lưỡng nan: rời ứng dụng đồng nghĩa với việc tự xóa tên mình khỏi bản đồ tiêu dùng số, ở lại thì biên lợi nhuận bị bào mòn gần như cạn kiệt. Khi nền tảng tăng chiết khấu lên 25-35%, tài xế toàn thời gian không còn đường lùi: muốn duy trì mức thu nhập cũ để trả tiền thuê nhà và tiền ăn, họ buộc phải kéo dài thời gian làm việc trên đường.

Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu lao động nền tảng. Một khảo sát được Ngân hàng Thế giới phối hợp thực hiện trên gần 5.000 lao động của 4 nền tảng số tại Việt Nam (giai đoạn tháng 3-5/2026) cho thấy bức tranh an sinh rất mong manh: Thu nhập ròng bình quân của tài xế chỉ đạt 7,4-9,7 triệu đồng/tháng sau khi đã trừ 13%-25% chi phí vận hành trực tiếp. Gần 80% người được khảo sát không tham gia bảo hiểm xã hội trong 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu.

Sự đứng ngoài này không bắt nguồn từ việc quay lưng với an sinh, mà do thiết kế chính sách chưa tương thích với dòng tiền bấp bênh của họ. Khi được hỏi về mức độ quan tâm với các chế độ an sinh xã hội, người lao động ưu tiên cao nhất cho những rủi ro ngắn hạn có thể đe dọa ngay lập tức nồi cơm hằng ngày.

Sự bành trướng của kinh tế nền tảng đặt các nhà hoạch định chính sách Việt Nam trước một bài toán phức tạp. Sau nhiều năm tranh luận xem các nền tảng gọi xe là "công ty công nghệ" hay "doanh nghiệp vận tải", các quy định giám sát và nghĩa vụ thuế đã dần được siết lại.

Thách thức không nằm ở việc tăng thuế đối với các nền tảng gọi xe, mà là xây dựng lại khế ước xã hội cho thời đại số. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đưa vào chương trình nghị sự dự án sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó nghiên cứu lộ trình mở rộng diện đóng BHXH bắt buộc đối với người làm việc qua nền tảng số. Đây là bước đi tất yếu nhưng không đơn giản.

Nếu chỉ dừng lại ở việc kêu gọi tham gia BHXH tự nguyện với gói quyền lợi hưu trí dài hạn đơn thuần, phần lớn tài xế sẽ từ chối vì gánh nặng mưu sinh trước mắt. Thay vào đó, Ngân hàng Thế giới khuyến nghị thiết kế các gói an sinh linh hoạt, tích hợp quyền lợi ngắn hạn (ốm đau, tai nạn, thai sản) cùng cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa người lao động và doanh nghiệp nền tảng. Những giải pháp ban đầu đã được các nền tảng gọi xe "lắng nghe": đó có thể là tích hợp công nghệ để trừ tiền bảo hiểm tự động theo từng cuốc xe/ngày làm việc; nền tảng bắt buộc phải đóng khoản đối ứng tương xứng với tài xế, xóa bỏ tình trạng "khoán trắng" chi phí an sinh cho người lao động...

Quan trọng hơn, với 78% lực lượng lao động chưa qua đào tạo nghề và hơn 42 triệu người làm việc tự do, công việc chạy xe không nên là điểm dừng chân cuối cùng của người trẻ. Có thể thành lập "Quỹ chuyển đổi kỹ năng nghề" với nguồn vốn trích từ một phần doanh thu của các nền tảng và đối ứng từ ngân sách khuyến nghiệp quốc gia. Các bên cung cấp khóa học trực tuyến linh hoạt về: thương mại điện tử, kỹ năng số, logistics chuyên sâu, quản trị cửa hàng... Điều này giúp tài xế và tiểu thương có lộ trình nâng cấp năng lực hoặc chuyển đổi sang các công việc có giá trị gia tăng cao hơn khi sức khỏe không còn cho phép chạy xe.

Mục tiêu của giải pháp này không phải là triệt tiêu mô hình kinh tế nền tảng - vốn mang lại hiệu quả to lớn về chuyển đổi số và tối ưu hóa nguồn lực. Mục tiêu là chuyển hóa kinh tế nền tảng từ chỗ "bào mòn lao động và tài sản tư nhân" sang một mô hình "chia sẻ thịnh vượng bền vững", nơi hiệu quả thuật toán song hành với trách nhiệm con người.

Bởi một mô hình kinh tế tối ưu hóa chi phí bằng cách đẩy toàn bộ rủi ro về mắt xích dễ tổn thương nhất cuối cùng sẽ chạm ngưỡng giới hạn.

Minh Trường