Buổi tiệc có khoảng 400 người. Đến cuối chương trình, Ban tổ chức lần lượt mời các cựu du học sinh chụp hình theo từng nhóm tuổi. Khi mời những người trên 80 tuổi, chỉ có một bàn bước ra. Đến nhóm trên 70 tuổi, gần như cả hội trường đứng dậy. Cuối cùng, còn lại một bàn của chúng tôi. Khi ấy tôi vừa bước qua tuổi 60.

Bây giờ, những người ở tuổi 70 ngày ấy đã ngoài 80. Những người vừa bước qua tuổi 60 như tôi đang tiến dần về phía ấy. Ở tuổi này, có một sự thật hơi buồn: nơi bạn bè cũ dễ gặp nhau đông đủ nhất lại chính là nhà tang lễ, khi cùng đến tiễn đưa một người bạn.

Đó là một thế hệ của cộng đồng từng được gọi bằng hình ảnh rất tình cảm - "khúc ruột ngàn dặm". Tôi tự hỏi: sau thế hệ chúng tôi, sợi dây ấy sẽ ra sao?

Khi nói đến người Việt ở nước ngoài, không nên chỉ nghĩ đến những người định cư tại Mỹ, Canada, Australia hay Tây Âu. Rất nhiều người Việt đang sinh sống và lao động tại Đông Âu, châu Á và nhiều nơi khác. Những đồng tiền họ dành dụm gửi về cho gia đình đã góp thành dòng kiều hối quan trọng với quê hương.

Sự đóng góp ấy không nên bị lu mờ khi nói đến những nguồn lực khác: kiến thức, kỹ năng, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và những mối quan hệ quốc tế mà người Việt tích lũy được trong quá trình học tập và làm việc ở nước ngoài. Nếu tiền có thể gửi về qua ngân hàng, chất xám ngày nay cũng có thể "gửi về" mà người sở hữu không nhất thiết phải trở về.

Ít lâu sau khi trở lại California, tôi tham gia điều hành một trung tâm y tế cộng đồng ở Orange County. Tại đây, tôi lập chương trình MD100, với mong muốn giúp 100 sinh viên Mỹ gốc Việt chuẩn bị con đường vào trường y.

Một năm, các em chọn một sinh viên gốc Hoa phụ trách việc quảng bá. Tôi phản đối vì đây là chương trình giúp sinh viên gốc Việt, tại sao người đại diện lại không phải một người Việt? Phản ứng của các em làm tôi bất ngờ. Với chúng, người bạn gốc Hoa ấy học cùng trường, sống cùng xã hội, có khả năng và sẵn lòng giúp đỡ. Nguồn gốc sắc tộc có gì quan trọng?

Nhiều năm sau nghĩ lại, tôi thấy các em có lý theo cách nhìn của thế hệ mình.

Tôi lớn lên ở Việt Nam rồi mới ra nước ngoài. Ý thức mình là người Việt đã hình thành từ lâu trước khi tôi ra đi. Còn các em sinh ra và lớn lên tại Mỹ, học tập và làm việc bên cạnh bạn bè thuộc đủ mọi nguồn gốc. Việt Nam đối với các em không thể giống Việt Nam trong tâm thức của thế hệ cha mẹ. Điều đó không có nghĩa thế hệ thứ hai không còn yêu quý nguồn cội. Nhưng sẽ thiếu thực tế nếu chờ đợi họ duy trì mối liên hệ với Việt Nam giống như thế hệ thứ nhất.

Trong khi một sợi dây đang mỏng dần, một sợi dây khác lại hình thành.

Vài thập niên gần đây, ngày càng nhiều người trẻ sinh ra, lớn lên tại Việt Nam đi học và làm việc ở nước ngoài. Họ ra đi với tiếng Việt, ký ức tuổi thơ, gia đình, bạn bè và những năm tháng trưởng thành ở quê nhà. Tôi có dịp quan sát khá gần một thế hệ như vậy tại Singapore.

Từ những năm 2000, nhiều sinh viên Việt Nam sang học tại các đại học công lập Singapore. Một số nhận học bổng, nhiều em được hỗ trợ học phí qua chương trình Tuition Grant của Chính phủ Singapore, với điều kiện làm việc ít nhất ba năm sau khi tốt nghiệp cho các tổ chức, doanh nghiệp đăng ký tại Singapore.

Trong thời gian ấy, tôi thành lập CLB VN2020 như một mạng lưới kết nối sinh viên Việt Nam với những người đi trước. Các em chia thành những nhóm chuyên môn; những anh chị đã đi làm chia sẻ kinh nghiệm, cố vấn nghề nghiệp, giới thiệu nơi thực tập và cơ hội việc làm. Ở đó có trao đổi nghề nghiệp, nhưng cũng có thể thao, guitar, hoạt động từ thiện và quyên sách chuyển về các trường đại học ở Việt Nam.

Càng nghĩ lại, tôi càng thấy những sinh hoạt tưởng như nhỏ bé ấy lại quan trọng. Một mạng lưới không thể chỉ được xây dựng bằng những lời kêu gọi lớn lao. Con người phải gặp nhau, quen nhau và tin nhau trước khi có thể giúp nhau.

Từ lâu nay, brain drain - chảy máu chất xám đã không còn là hiện tượng mới - người trẻ có năng lực đi học ở nước ngoài rồi ở lại, và đất nước mất đi một nguồn nhân lực quý.

Nhưng thế giới ngày nay đã khác.

Một nhà khoa học Việt Nam ở Boston có thể hợp tác với phòng thí nghiệm trong nước. Một kỹ sư tại Singapore có thể giúp doanh nghiệp bước vào chuỗi cung ứng. Một bác sĩ ở Sydney có thể chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp trong nước. Một giáo sư ở châu Âu có thể hướng dẫn nghiên cứu sinh Việt Nam.

Vì vậy, bên cạnh brain drain, cần nghĩ nhiều hơn đến brain circulation - tuần hoàn chất xám: tri thức, kinh nghiệm và các mạng lưới có thể lưu chuyển qua biên giới ngay cả khi con người không trở về sinh sống. Đó là dòng "kiều hối tri thức".

Nhưng đến đây lại nảy sinh câu hỏi khác: có người "gửi hàng" thì phải có người "nhận hàng".

Một nhà khoa học ở Boston muốn hợp tác với Việt Nam thì ai biết ông đang có gì để đóng góp và nơi nào đang cần? Một kỹ sư ở Singapore có khả năng nối một doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng quốc tế thì tìm đến đâu? Một bác sĩ ở Sydney muốn chia sẻ một kỹ thuật mới thì cơ sở nào trong nước đang cần đúng chuyên môn ấy?

Việt Nam từng có những cơ quan chuyên trách làm đầu mối với cộng đồng ở nước ngoài. Chẳng hạn, Ban Việt kiều Trung ương từng được xác định là cơ quan thuộc Chính phủ và là đầu mối liên hệ của Chính phủ với Việt kiều. Nhưng hình thái của cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang thay đổi. Cách kết nối cũng cần được suy nghĩ lại.

Trong thời đại số, "đầu nhận" không chỉ làm công việc vận động hay gặp gỡ kiều bào theo nghĩa truyền thống. Cần một cơ chế giúp nhận diện Việt Nam đang cần gì, người Việt nào trên thế giới có đúng kiến thức và kinh nghiệm ấy, rồi làm sao nối hai phía với nhau.

Đó gần như là một thị trường cung - cầu về tri thức. Nhưng muốn dòng tri thức ấy tiếp tục chảy sau một, hai hay ba thế hệ, lại có một câu hỏi sâu hơn: sợi dây với quê hương được hình thành từ đâu? Điều cần trở về trước hết là tri thức của họ.

Tôi không phải nhà giáo dục và cũng không nghĩ mình có giải pháp cho một vấn đề lớn như vậy. Tôi chỉ nghĩ đến hai việc nhỏ có thể bắt đầu từ trường học.

Việc thứ nhất là đưa trẻ em thành thị và nông thôn đến gần nhau hơn.

Tại sao một trường ở TP HCM, Hà Nội hay Đà Nẵng không thể kết nghĩa với một trường ở miền quê? Không chỉ để quyên góp sách vở hay tiền bạc, mà để học sinh hai bên thực sự biết nhau: trao đổi thư từ, cùng làm dự án, thăm trường của nhau, và nếu điều kiện cho phép, sống với nhau một thời gian ngắn.

Đứa trẻ thành phố sẽ hiểu nông thôn không phải qua một bài học trong sách. Em sẽ nhớ một người bạn có tên, có khuôn mặt, có gia đình và một cuộc sống khác với mình. Và đứa trẻ ở nông thôn cũng có cơ hội nhìn thấy một thế giới rộng hơn nơi mình đang sống.

Việc thứ hai là tạo thêm những chiếc cầu giữa Bắc, Trung và Nam.

Một học sinh lớn lên ở Sài Gòn có thể biết Hà Nội, Huế hay miền núi phía Bắc qua sách giáo khoa và những chuyến du lịch. Nhưng sẽ khác nếu em có một người bạn ở đó, từng ngồi chung lớp, ăn chung một bữa cơm hay cùng làm một công việc.

Tại sao không có thêm những chương trình trao đổi học sinh giữa các vùng? Không nhất thiết phải kéo dài sáu tháng hay một năm. Có thể chỉ vài tuần hoặc một mùa hè. Có thể bắt đầu rất nhỏ, giữa vài trường có điều kiện và thiện chí, rồi từ kinh nghiệm ấy tìm ra những cách thích hợp hơn.

Hai mươi năm sau, đứa trẻ ấy có thể đang đứng trong một phòng thí nghiệm ở Boston, làm việc cho một công ty ở Singapore hay khám bệnh trong một bệnh viện ở Sydney. Khi nhắc đến Việt Nam, em không chỉ nhớ một cái tên trên bản đồ. Em nhớ một người bạn ở miền quê. Một gia đình từng cho mình ăn một bữa cơm. Một mùa hè ở miền Trung. Một lớp học ở miền Bắc. Một con sông ở miền Tây. Sợi dây ấy đã được se từ trước khi em ra đi.

Đất nước không nhất thiết phải giữ tất cả người tài ở bên trong biên giới. Điều quan trọng là làm sao để dù sống ở đâu, họ vẫn thấy mình có thể đóng góp.

Hai gợi ý trên chắc chắn còn đơn sơ. Các nhà giáo dục, các gia đình và những người trẻ có lẽ sẽ nghĩ ra nhiều cách hay hơn. Và đó cũng là câu hỏi tôi muốn để lại:

Làm thế nào để những người trẻ hôm nay có thể đi thật xa, học thật nhiều, thành công ở bất cứ nơi đâu mà vẫn còn một sợi dây để trở về?

Võ Tá Hân