
Trong nhóm Facebook "con ghét bố mẹ", một sinh viên sống xa nhà kể rằng cha đọc tin nhắn, trách chuyện uống trà sữa, yêu cầu chụp từng bữa ăn và kê chi tiêu. Khoản sinh hoạt phí, trong câu chuyện này, đi cùng sự giám sát. Người con đã rời nhà để học, nhưng việc tự quyết những chuyện nhỏ vẫn khó khăn.
Một học sinh lớp 11 về lịch học hơn mười giờ mỗi ngày và việc bị thu điện thoại trong lúc nghỉ.
Những lời kể này chưa đủ để đại diện cho mọi gia đình. Chúng đặt ra câu hỏi đáng suy nghĩ: Khi cha mẹ chăm lo, con được sống cuộc đời của mình đến đâu?
Những hành trang không ngang nhau
Người trẻ bước vào đời với những nguồn lực khác nhau. Một người có thể được gia đình hỗ trợ học hành, tìm việc, chỗ ở. Người khác phải kiếm sống sớm và gánh thêm trách nhiệm với người thân. Trong hôn nhân, những khác biệt ấy trở thành điều kiện cụ thể của việc chăm con. Cùng một lời khuyên "hãy dành thời gian cho trẻ", khả năng thực hiện có thể rất khác.
Nhà xã hội học Pierre Bourdieu giúp hiểu sự khác biệt này qua các dạng vốn được tích lũy và truyền lại giữa các thế hệ. Vốn kinh tế gồm tiền bạc và tài sản, còn vốn văn hóa thể hiện trong kiến thức, nếp học tập, cách ứng xử và bằng cấp.
Vốn xã hội là những nguồn lực mà một người có thể huy động thông qua mạng lưới quan hệ của mình. Các nguồn lực ấy hỗ trợ nhau và ảnh hưởng đến cơ hội của thế hệ sau, chẳng hạn gia đình có thể dùng tiền để đầu tư học hành, dùng quan hệ để giúp con tiếp cận công việc.
Vì vậy, thành công học tập hay nghề nghiệp cần được xem xét cùng điều kiện tích lũy nguồn lực, thay vì quy hết cho nỗ lực cá nhân. Sự tái sản xuất bất bình đẳng diễn ra khi những lợi thế hoặc bất lợi từ đời cha mẹ tiếp tục ảnh hưởng đến đường đời của con.
Vận dụng gợi ý đó, có thể hình dung hai người cùng tìm việc sau khi tốt nghiệp. Người có chỗ ở và sự hỗ trợ đủ lâu được thử nhiều lựa chọn. Người phải trả tiền trọ, gửi tiền về nhà có thể cần nhận ngay công việc đầu tiên. Sau này, sự khác biệt về thu nhập, thời gian và quyền lựa chọn công việc có thể ảnh hưởng tới cách họ tổ chức đời sống gia đình.
Một nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy quá trình học tập, đi làm và lập gia đình của người trẻ chịu tác động đan xen của giới, hoàn cảnh kinh tế gia đình, nơi cư trú và tộc người. Lợi thế học tập của nữ giới không tự động chuyển thành lợi thế tương ứng trong việc làm.
Đây là gợi ý để nhìn sự vào đời như một quá trình chịu nhiều ràng buộc, thay vì một bước chuyển giống nhau cho mọi thanh niên.
Tuy nhiên, bất lợi kinh tế không tự biến thành bạo lực. Cần theo dõi những khâu trung gian: nỗi lo sinh kế được diễn giải ra sao, người lớn tìm sự hỗ trợ ở đâu, trong nhà ai được quyết định và ai phải phục tùng. Khi thiếu cơ hội thay đổi hoàn cảnh, một người có thể dồn hy vọng vào thành tích của con. Đứa trẻ khi ấy phải mang cả mong muốn sửa chữa cuộc đời cha mẹ.
Khi thành tích của con gắn với vị thế gia đình
Trong mạng lưới họ hàng và người quen, việc học hành, nghề nghiệp hay hôn nhân của một người con có thể trở thành căn cứ đánh giá cả gia đình. Những quan hệ đem lại sự đỡ đần cũng có thể đặt ra yêu cầu về cách nuôi dạy. Chẳng hạn, nếu một nghề bị coi là không xứng với gia đình, cha mẹ có thể ngăn con theo đuổi dù nghề ấy phù hợp với năng lực của con.
Khi việc chăm sóc bị dồn vào gia đình
Nhà lý luận nữ quyền Nancy Fraser phân tích mâu thuẫn giữa hoạt động kinh tế và những công việc duy trì đời sống con người, thường được gọi là tái sản xuất xã hội. Việc nuôi trẻ, chăm người phụ thuộc và duy trì quan hệ xã hội giúp hình thành, nuôi dưỡng những con người mà nền kinh tế cần đến.
Tuy nhiên, yêu cầu tích lũy của tư bản có thể làm hao hụt thời gian và nguồn lực dành cho chính các công việc ấy. Khi phần chăm sóc được coi như việc riêng của từng nhà, những khó khăn về lao động, thu nhập và dịch vụ hỗ trợ dễ bị giải thích thành thiếu sót của cha mẹ. Khái niệm "tái sản xuất xã hội" ở đây chỉ việc duy trì con người và đời sống, khác với trọng tâm tái tạo bất bình đẳng ở Bourdieu.
Đặt gợi ý ấy vào câu chuyện gia đình, cần hỏi cả điều kiện thực hiện tình thương. Nếu cha mẹ phải làm thêm để trả các khoản chi thiết yếu, thời gian ở bên con có thể giảm. Muốn bảo đảm cuộc sống cho trẻ lại phải dành ít thời gian chăm trẻ hơn.
Căng thẳng này dễ bị giải thích thành thiếu kỹ năng làm cha mẹ, trong khi việc tổ chức lao động và các dịch vụ hỗ trợ cũng cần được xem xét.
Một phân tích đầy đủ còn phải xem công việc trong nhà được chia thế nào. Khi một người gánh phần lớn việc chăm sóc, khả năng nghỉ ngơi, học thêm hay đổi việc của họ bị thu hẹp. Nếu hai người đều kiệt sức mà thiếu hỗ trợ, xung đột dễ lan sang trẻ. Khuyên họ bình tĩnh có ích, nhưng lời khuyên cần đi cùng khả năng được nghỉ và được giúp đỡ.
Chẳng hạn, đôi vợ chồng trẻ ở nhờ nhà cha mẹ và nhờ ông bà trông con sẽ bớt một khoản chi, nhưng có thể khó tự quyết giờ giấc hay cách dạy trẻ. Sự giúp đỡ ấy đồng thời tạo nghĩa vụ đáp lại, nhất là khi người nhận chưa có phương án thay thế. Vì thế, xung đột nuôi con có khi liên quan đến cả quan hệ giữa vợ chồng với hai bên nội ngoại. Quyền lựa chọn của cha mẹ trẻ cũng cần được xem xét cùng mức độ phụ thuộc này.
Ở khía cạnh khác, nguồn lực dồi dào cũng có thể nuôi dưỡng sự kiểm soát. Cha mẹ đầu tư nhiều cho con rồi đòi hỏi một kết quả tương xứng. Lịch học được lấp đầy, thời gian riêng bị coi là lãng phí. Bởi vậy, phải xem nguồn lực được sử dụng trong quan hệ quyền lực nào. Một gia đình có điều kiện vẫn có thể khiến trẻ cảm thấy mình chỉ được công nhận khi đáp ứng kế hoạch của người lớn.
.
Việc phụ huynh vào nhóm vì thế cần được đánh giá qua cách họ tham gia. Một lời hỏi han có thể mở đối thoại. Một lời lên lớp có thể kéo sự kiểm soát trong nhà sang mạng. Chưa có dữ liệu để kết luận nhóm nào chiếm đa số thành viên. Vấn đề đáng quan tâm là trẻ có còn được kể chuyện của mình, và người lớn có chấp nhận nghe điều trái với hình dung về gia đình mình hay không.
Khả năng thương lượng của con thay đổi theo tuổi và mức độ tự lập. Một sinh viên có thể tìm việc làm thêm, chuyển chỗ ở hoặc nhờ người thân làm cầu nối, trong khi một học sinh nhỏ tuổi thường phải dựa vào người lớn khác để được bảo vệ.
Sự phản đối của con cũng có thể khiến cha mẹ điều chỉnh những yêu cầu từng xem là hiển nhiên. Nhìn vào các cách ứng xử ấy giúp thấy gia đình đang được thương lượng lại trong đời sống hằng ngày, đồng thời tránh mặc định người trẻ nào cũng có sẵn quyền rời bỏ một quan hệ gây tổn thương.
Chính sách dành cho người trẻ vì vậy cần tính đến cả quá trình bước vào hôn nhân và làm cha mẹ. Chỗ ở có thể chi trả, việc làm có thời gian nghỉ hợp lý, dịch vụ giữ trẻ phù hợp và hỗ trợ khi gia đình gặp khủng hoảng đều liên quan trực tiếp đến chăm sóc. Những điều kiện ấy giúp lời khuyên về nuôi dạy con có cơ hội trở thành thực hành hằng ngày.
Nhà trường cần tạo nơi trẻ có thể trình bày khó khăn mà không bị quy ngay thành lỗi ứng xử. Phụ huynh cũng cần được hỗ trợ xem lại các kỳ vọng, phân chia việc chăm sóc và tìm trợ giúp. Khi có bạo hành, việc bảo vệ trẻ phải được đặt trước yêu cầu giữ hòa khí. Hoàn cảnh khó khăn giúp giải thích sức ép. Trách nhiệm đối với hành vi gây hại vẫn phải rõ ràng.
Những lời kể trong "con ghét bố mẹ" đang mở ra câu chuyện về cách người trẻ được chuẩn bị và được hỗ trợ để vào đời. Một xã hội để quá nhiều bất lợi tích lũy rồi giao gia đình tự xoay xở sẽ khiến trẻ phải gánh thêm hệ lụy.
Muốn trẻ được chăm sóc tốt hơn, cần tạo điều kiện để người lớn xây dựng một đời sống bớt bấp bênh, đồng thời bảo đảm tiếng nói của trẻ được tôn trọng ngay trong gia đình.
TS. Phạm Thanh Thôi
